Ca dao và thơ cổ Việt Nam dùng màu sắc tiết chế mà gợi cảm: bông sen "lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng", "non xanh nước biếc" xứ Nghệ, "cỏ non xanh tận chân trời, cành lê trắng điểm một vài bông hoa" trong Truyện Kiều, "trời xanh ngắt" trong thơ thu của Nguyễn Khuyến. Thường chỉ hai, ba màu là đủ vẽ một bức tranh, và màu nào cũng mang thêm một ý nghĩa: trắng là trong sạch, son là chung thuỷ, xanh là sức sống hoặc nỗi xa cách.
Ca dao: màu của làng quê
Bông sen ba màu
Bài ca dao nổi tiếng nhất về màu có lẽ là:
Trong đầm gì đẹp bằng sen
Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng
Nhị vàng bông trắng lá xanh
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.
Ba màu xanh, trắng, vàng được nhắc hai lần, lần sau đảo thứ tự, như người ngắm bông sen từ ngoài vào trong rồi từ trong ra ngoài. Câu cuối biến bức tranh màu thành bài học đạo đức: sống giữa môi trường xấu mà vẫn giữ được phẩm chất. Ba màu ở đây vừa tả thực vừa tượng trưng: trắng là thanh khiết, vàng là quý giá, xanh là sức sống.
Non xanh nước biếc
Đường vô xứ Nghệ quanh quanh
Non xanh nước biếc như tranh hoạ đồ.
"Xanh" của núi và "biếc" của nước là hai sắc xanh khác nhau: "biếc" là xanh trong, sâu, có ánh. Chỉ bốn chữ "non xanh nước biếc" đã thành thành ngữ chỉ cảnh đẹp.
Màu trên người con gái
Cổ tay em trắng như ngà
Con mắt em liếc như là dao cau.
Thân em như tấm lụa đào
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai.
"Trắng như ngà" là khen làn da mịn màng. "Lụa đào" là lụa màu hồng đào, vừa tả vẻ đẹp tươi trẻ vừa gợi thân phận mong manh, không tự quyết được của người phụ nữ xưa.
Hồ Xuân Hương: màu trắng và màu son
Thân em vừa trắng lại vừa tròn
Bảy nổi ba chìm với nước non
Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn
Mà em vẫn giữ tấm lòng son.
Bài Bánh trôi nước bắt đầu bằng màu trắng của vỏ bánh và kết bằng màu son của nhân đường đỏ. Hai màu này vừa đúng với chiếc bánh vừa nói về người phụ nữ: bề ngoài trắng trong, bên trong là tấm lòng son sắt không đổi dù số phận bị người khác "nặn". Đây là ví dụ kinh điển về cách thơ Việt dùng màu sắc như một tầng nghĩa thứ hai.
Truyện Kiều: bảng màu của Nguyễn Du
Cỏ non xanh tận chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.
Hai câu tả cảnh mùa xuân trong tiết thanh minh chỉ dùng hai màu: nền xanh mênh mông và vài điểm trắng. Người đọc như thấy một bức tranh thuỷ mặc có điểm sáng, tươi mà thanh. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng Nguyễn Du lấy ý từ một câu thơ cổ Trung Hoa nhưng tạo được vẻ đẹp riêng.
Làn thu thuỷ nét xuân sơn
Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh.
Ở đây màu sắc được dùng để so sánh: sắc đẹp của Thuý Kiều làm hoa ghen vì kém "thắm" (đỏ tươi), liễu hờn vì kém "xanh". "Thu thuỷ" là nước mùa thu, ví đôi mắt trong; "xuân sơn" là núi mùa xuân, ví nét lông mày.
Chinh phụ ngâm: xanh của nỗi nhớ
Trong bản dịch Chinh phụ ngâm thường được cho là của Đoàn Thị Điểm (có ý kiến cho là của Phan Huy Ích), có đoạn:
Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu
Ngàn dâu xanh ngắt một màu
Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai.
Màu xanh ở đây không còn là sức sống mà là khoảng cách: người vợ tiễn chồng ra trận nhìn theo chỉ thấy ruộng dâu xanh "xanh xanh" rồi "xanh ngắt", màu trải dài vô tận như nỗi chia ly. Cách láy từ "xanh xanh" sang "xanh ngắt" làm màu đậm dần, tình cảm cũng đậm dần.
Nguyễn Khuyến: màu xanh của mùa thu
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí
Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo
Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt.
Trong bài Thu điếu (Câu cá mùa thu), Nguyễn Khuyến dùng nhiều sắc xanh: sóng "biếc", trời "xanh ngắt", điểm thêm "lá vàng". Màu xanh của mùa thu đồng bằng Bắc Bộ trong thơ ông vừa trong trẻo vừa tĩnh lặng, gợi nỗi buồn kín đáo của nhà nho ở ẩn.
Bảng tóm tắt: màu và ý nghĩa trong thơ ca cổ
| Màu | Hình ảnh thường gặp | Ý nghĩa thường mang |
|---|---|---|
| Trắng | Bông sen, ngà, hoa lê, vỏ bánh trôi | Trong sạch, thanh khiết, đẹp |
| Son, đỏ, thắm | Lòng son, má hồng, hoa thắm | Chung thuỷ, tuổi trẻ, sắc đẹp |
| Xanh, biếc | Non xanh, cỏ non, ngàn dâu, trời thu | Sức sống; cũng là khoảng cách, nỗi nhớ |
| Vàng | Nhị sen, lá thu | Quý giá; sự tàn phai của mùa thu |
| Đào, hồng | Lụa đào, hoa đào | Tuổi trẻ, vẻ đẹp mong manh |
Góc nhìn hôm nay: đọc thơ bằng màu
Khi đọc một bài thơ cổ, thử gạch chân mọi từ chỉ màu và tự hỏi: màu này tả thật hay tượng trưng, nó đối lập với màu nào, nó đậm dần hay nhạt dần. Cách đọc này giúp thấy sự tinh tế mà đọc lướt dễ bỏ qua. Các tuyển tập ca dao (như công trình của Vũ Ngọc Phan), bản Truyện Kiều có chú giải, và các bài nghiên cứu về thi pháp thơ trung đại là nguồn tốt để đọc tiếp. Một bài tập thú vị cho học sinh: vẽ minh hoạ hai câu "Cỏ non xanh tận chân trời, cành lê trắng điểm một vài bông hoa" chỉ bằng hai màu.
Câu hỏi thường gặp
Bài ca dao "Trong đầm gì đẹp bằng sen" có những màu nào?
Có ba màu: lá xanh, bông trắng và nhị vàng, được nhắc hai lần với thứ tự đảo ngược. Ba màu vừa tả thực bông sen vừa tượng trưng cho sức sống, sự thanh khiết và quý giá.
"Tấm lòng son" trong bài Bánh trôi nước nghĩa là gì?
"Son" là màu đỏ, chỉ nhân đường đỏ của bánh trôi, đồng thời tượng trưng cho tấm lòng chung thuỷ, son sắt không đổi của người phụ nữ.
"Non xanh nước biếc" nghĩa là gì?
Là cảnh núi xanh, nước xanh trong, chỉ phong cảnh thiên nhiên tươi đẹp. "Biếc" là sắc xanh trong và sâu, thường dùng cho nước.
Màu xanh trong Chinh phụ ngâm mang ý nghĩa gì?
Trong đoạn "Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu", màu xanh của ruộng dâu trải dài tượng trưng cho khoảng cách và nỗi nhớ của người vợ tiễn chồng, càng nhìn càng xanh ngắt, càng sầu.